MENU
logo
logo
Vietnamese English

Đã từ rất lâu rồi, khi nói đến văn hoá làng, nói đến nông thôn Việt Nam, người ta liên tưởng ngay tới những hình ảnh rất đặc trưng, làm nên biểu tượng của làng quê: cây đa, bến nước, sân đình…Đình làng là hình ảnh thân quen, gắn bó với tâm hồn của mọi người dân Việt, là nơi chứng kiến những sinh hoạt, lề thói và mọi đổi thay trong đời sống xã hội của làng quê Việt Nam qua bao thế kỷ….

Lúc đầu, đình chỉ có chức năng như ngôi nhà lớn của cộng đồng, là nơi hội họp, nộp sưu thuế và nơi nghỉ cho khách lỡ đường. Về sau, triều đình phong kiến mới sắc phong cho những vị có công với nước làm Thành Hoàng làng (sống làm tướng, thác làm thần). Vì vậy đình kiêm chức năng nữa là thờ vị Thành Hoàng - người có công khẩn đất, lập làng.

Ngoài Thành Hoàng làng, tùy theo thực tế của làng, mỗi ngôi đình làng có thể thờ các vị thần, thánh khác do mỗi làng tôn thờ, hoặc việc thờ cúng các vị thần theo sắc phong của Nhà vua, tất cả đều được rước vào đình thành một tập thể siêu thần, thành một sức mạnh vô hình, tạo niềm tin, niềm hy vọng, nhu cầu tâm linh, ước vọng thịnh vượng, sung túc của cả cộng đồng.

Đình Bình Kính - Đền thờ Thượng đẳng Nguyễn Hữu Cảnh
Đình Bình Kính - Đền thờ Thượng đẳng Nguyễn Hữu Cảnh

Cũng như bao ngôi đình trên vùng đất phương Nam, đình làng ở Biên Hòa là một dấu ấn xác định sự hình thành của cộng đồng người Việt trên vùng đất mới. Tên gọi các ngôi đình thường gắn liền với tên gọi của làng. Đó là những tên gọi khi làng mới được thành lập, nên người dân quen gọi là đình làng. Chẳng hạn như đình Tân Lân, đình Bình Kính, đình Phước Lư, đình Mỹ Khánh, đình Tân Giám… Mặc dù cho đến nay, nhiều địa bàn có sự thay đổi về tên gọi nhưng thường các ngôi đình vẫn giữ nguyên tên trong cách gọi dân gian. Một số đình thờ những nhân thần thì gắn liền với tên gọi của đối tượng được thờ, như đình Bình Kính thờ Nguyễn Hữu Cảnh thì gắn với tên gọi song song là đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh, đình Mỹ Khánh thờ Nguyễn Tri Phương thì được gọi là đền thờ Nguyễn Tri Phương, đình Tân Lân thờ Trần Thượng Xuyên thì gọi là là đền thờ Trần Thượng Xuyên, đình Tam Hiệp thờ Đoàn Văn Cự thì gọi là đền thờ Đoàn Văn Cự… Như vậy, đình và đền là hai cách gọi nhưng cùng chỉ một cơ sở tín ngưỡng của làng xã đó là đình.

Đình Tam Hiệp - Đền thờ Đoàn Văn Cự và 16 Nghĩa binh
Đình Tam Hiệp - Đền thờ Đoàn Văn Cự và 16 Nghĩa binh

Những ngôi đình ở Biên Hòa thường bắt nguồn từ các miếu, đền. Ban đầu, do những điều kiện, có thể một số làng lân cận cùng chung dựng một ngôi đình. Sau này, về mặt phân chia địa chính, những làng rộng lớn trước kia đông dân cư, phát triển thì được tách thành nhiều thôn làng khác. Số lượng các ngôi đình ở vùng đất Biên Hòa ngày càng nhiều lên theo sự phát triển của cộng đồng dân cư khi hình thành làng mới hoặc dân cư của làng phát triển ngày càng mạnh. Nhiều trường hợp minh chứng cho sự phát triển này là Miếu Ba Làng tại phường Thống Nhất, Biên Hòa ngày nay. Đây là xuất xứ của một ngôi miếu chung của ba làng Lân Thị, Phước Lư và Vinh Thạnh. Sau, Miếu Ba Làng chỉ còn làng Lân Thị, hai đình mới được lập thêm là Phước Lư và Vinh Thạnh.

Đình ở Biên Hòa trải qua nhiều lần trùng tu, tôn tạo, một số ngôi đình được xây dựng mới trên địa điểm cũ hoặc dời đi nhưng không ra khỏi địa phận của làng bởi nhiều yếu tố tác động. Như đình Tân Lân dời từ trên đồi xuống ven sông,  đình Bình Kính do bị mục nát, nước sông làm xói lở nên được trùng tu xây dựng cách chỗ cũ hơn 400 mét… Trong trận lụt năm 1952 vùng Biên Hòa bị ngập trong nước nhiều ngày, nhiều ngôi đình – nhất là những ngôi đình ở ven bờ rạch, sông Đồng Nai bị hư hại. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, thực hiện chế độ tiêu thổ kháng chiến, nhiều ngôi đình ở Biên Hòa đã bị phá hủy hay trong chính sách mới năm 1975, một số đình làng bị bỏ phế hoặc được trưng dụng vào các công việc khác. 

Sau này, với sự phát triển của nhiều mặt kinh tế - xã hội, nhiều cộng đồng dân cư từ nhiều nguôn tài lực khác nhau đã trùng tu, tôn tạo và thậm chí xây mới các ngôi đình. Quy mô kiến trúc các ngôi đình lớn dần theo tỉ lệ thuận với sự mở mang thịnh vượng của cộng đồng. Phần lớn các ngôi đình ở Biên Hòa được xây dựng theo kiểu nhà tứ trụ. Đây là kiểu thức “nhà rường” nhưng gian trung tâm gồm 04 cột cái bố trí cách đều, từ 04 cột cái, các kèo đấm, kèo quyết đưa ra 04 hướng tạo không gian vuông vức. Đây là không gian thiêng, trung tâm cho việc thờ tự chính trong đình. Ngoài chánh điện, tùy nơi mà ngôi đình có nếp nhà hay được gọi là Võ ca, nhà hội, nhà trù (bếp). Mái đình được lợp ngói vảy cá trên giàn khung bằng rui gỗ. Thế nhưng, một số đình do tình trạng xuống cấp đã trùng tu sử dụng loại ngói mới. Trên nóc đình thường trang trí cặp rồng chầu mặt trời (lưỡng long triều nhựt) hay tranh quả châu (lưỡng long tranh châu). Một số đường mái được trang trí tượng gốm Cá hóa rồng hay lân chầu.

Theo truyền thống thì mặt tiền đình thường hướng ra sông, rạch hay các con đường. Xét trên mặt phẳng thì ngôi đình bố trí theo thứ tự: Cổng đình, bình phong, Võ ca, chánh điện, nhà hội, nhà trù. Nhiều nhà nghiên cứu dựa trên tổng thể của kiến trúc đình để phân định lối theo dạng chữ Hán. Nếu tổng thể kiến trúc giống chữ nào thì gọi theo chữ đó, như chữ nhất, nhị, tam hoặc chữ đinh… Dẫu lối kiến trúc của đình như thế nào chăng nữa, thì sự sắp xếp, bài trí trong từng nội hàm từng phần kiến trúc của đình cũng theo những khuôn định có tính chất quy chuẩn. 

Đình làng là một biểu trưng tinh thần của làng xã Việt, lưu giữ tinh hoa văn hoá của nhân dân thuộc từng thời kỳ lịch sử, nhưng tiếc rằng số làng còn lưu giữ được đình có không nhiều. Ngôi đình –  nơi diễn ra các nghi lễ phong tục tập quán, trò chơi dân gian … góp thêm hồn cho lễ hội và phát huy giá trị văn hóa địa phương, góp phần bảo tồn các giá trị văn hoá, đánh thức quan niệm sống truyền thống nhân nghĩa, đức độ và hào hùng. Lễ hội ở đình trở nên linh thiêng và có sức cộng cảm. Mọi khía cạnh đời thường được nâng lên không gian thiêng liêng. Những người con xa xứ ai ai khi nhớ về quê hương đều không quên hình ảnh đình làng - chứng tích tâm hồn, nhân chứng lịch sử bởi đó cũng chính là một mảng hồn quê…

Mai Phương